THUẬT NGỮ ĐÁ QUÝ TỰ NHIÊN
Trong giới chuyên gia về đá quý tự nhiên, có rất nhiều thuật ngữ được sử dụng nhằm giúp họ phân loại về mẫu vật quý được tìm thấy.

Đá quý hữu cơ và đá quý vô cơ
Một khía cạnh khác để phân loại đá quý chính là chia tách nó thành đá quý vô cơ và đá quý hữu cơ. Đá quý hữu cơ dùng để chỉ những loại đá quý được hình thành từ những sinh vật sống. Ví dụ như Hổ phách được tạo thành từ nhựa thông hóa thạch, Ngọc trai tạo ra trong thân của loài nhuyễn thể, Ammolite được hình thành từ hóa thạch vỏ của động vật biển thân mềm,…
Đá quý vô cơ được dùng để chỉ tất cả những loại khoáng sản quý còn lại. Chúng là những loại đá quý được tạo thành do quá trình biến đổi địa chất, trầm tích, magma,… xảy ra trên bề mặt trái đất.
Đá quý tinh thể và đá quý vô định hình
Thuật ngữ tinh thể dùng để chỉ những khoáng sản được cấu tạo bởi các nguyên tử, ion, hoặc phân tử có ảnh hưởng nhiễu xạ chủ yếu là gián đoạn. Đá quý tinh thể có cấu trúc tuần hoàn, được gọi là cấu trúc trật tự kéo dài. Thuật ngữ vô định hình dùng để chỉnh những khoáng sản không có cấu tạo giống tinh thể. Ta có thể hiểu đơn giản là các phân tử hay nguyên tử trong chất này không nằm ở các vị trí có trật tự diện rộng. Cấu trúc của đá quý vô định hình là cấu trúc trật tự gần.
Đá quý có cấu trúc vô định hình có thể bao gồm đá quý vô cơ và đá quý hữu cơ, ví dụ dễ thấy nhất chính là đá Opal (vô cơ) và Hổ phách (hữu cơ).